I. CÁC TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI NGUY HẠI
Các chất thải được phân loại là chất thải nguy hại khi có ít nhất một trong các tính chất sau:
- Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của  phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh.
- Dễ cháy (C): Bao gồm:
+ Chất thải lỏng dễ cháy: là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng  hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng  có nhiệt độ chớp cháy không quá 550C.
+ Chất thải  rắn dễ cháy: là các chất rắn  có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển.
+ Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện  vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa.
- Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc  trong trường hợp  rò  rỉ  sẽ phá huỷ  các loại vật liệu, hàng hoá và  phương tiện vận chuyển. Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5).
- Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó. 
  - Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho là gây bệnh cho con người và động vật.
- Có độc tính (Đ): Bao gồm:
+ Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đường  ăn uống, hô hấp hoặc qua da.
+ Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây  ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da.
- Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại  đến các hệ sinh vật.
II. CHẤT THẢI NGUY HẠI ĐƯỢC PHÂN LOẠI THEO CÁC NGUỒN HOẶC DÒNG THẢI CHÍNH
1.  Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
2.  Chất thải từ  ngành  sản  xuất hoá chất vô cơ 
3.  Chất thải từ  ngành  sản  xuất hoá chất hữu cơ 
4.  Chất thải từ  nhà  máy  nhiệt  điện  và  các  quá  trình  nhiệt  khác
5.  Chất thải từ  quá  trình  luyện  kim 
6.  Chất thải từ  quá  trình  sản  xuất thuỷ  tinh và  vật  liệu  xây dựng 
7.  Chất thải từ quá  trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu khác 
8.  Chất thải từ quá  trình  sản  xuất, điều chế, cung ứng và sử  dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), keo, chất bịt kín và mực in.
9.  Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
10.  Chất thải từ ngành da, lông và dệt nhuộm
11.  Chất thải xây dựng  và  phá  dỡ  (kể  cả  đất  đào  từ  các  khu vực  bị  ô  nhiễm )
12.  Chất thải từ các cơ sở  quản    lý  chất  thải , xử  lý  nước  thải  tập  trung, xử  lý  nước  cấp  sinh hoạt  và  công nghiệp 
13.  Chất thải từ ngành y tế  và  thú  y
14.  Chất thải từ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
15.  Chất thải từ hoạt  động  phá  dỡ  thiết  bị , phương tiện  giao thông vận  tải  đã  hết  hạn  sử  dụng
16.  Chất thải hộ  gia đình  và  chất  thải  sinh hoạt  từ  các  nguồn  khác
17.  Dầu  thải , chất  thải  từ  nhiên liệu  lỏng , chất  thải  dung môi hữu  cơ , môi chất  lạnh  và  chất đẩy
18.  Các  loại  chất  thải  bao bì , chất  hấp  thụ , giẻ  lau, vật  liệu  lọc  và  vải  bảo  vệ
19.  Các  loại  chất  thải  khác
CHÚ THÍCH:
 
* :      Là chất thải nguy hại khi nồng độ vượt quá ngưỡng nguy hại được qui định ở các tiêu chuẩn hiện hành. Trong trường hợp chưa có tiêu chuẩn thì áp dụng theo các tiêu chuẩn của EC hoặc của Mỹ với sự đồng ý của cơ quan thẩm quyền về môi trường
**:    Luôn là chất thải nguy hại 
[1] Quá trình ổn định hoá thay đổi tính chất nguy hại của thành phần chất thải và do đó chuyển hoá chất thải nguy hại thành không nguy hại. Quá trình hoá rắn chỉ thay đổi trạng thái tập hợp của chất thải (ví dụ lỏng thành rắn), bằng cách cho các phụ gia vào mà không làm thay đổi tính chất hoá học của chất thải.
[2] Một chất thải được coi là bán ổn định nếu trong quá trình ổn định hoá, các thành phần nguy hại chưa được chuyển hoá hoàn toàn thành các thành phần không nguy hại, vẫn có khả năng  phát tán ra môi trường trong các khoảng thời gian ngắn, trung hoặc dài hạn.
[3] Các linh kiện từ thiết bị điện, điện tử, có thể bao gồm tụ điện và pin/ắc quy  được xem là  nguy hại công tắc thuỷ ngân, thuỷ tinh từ ống phóng catốt và các loại thuỷ tinh hoạt tính khác được xem là nguy hại.
[4] Trong mục này, các kim loại chuyển tiếp gồm: scandi, vanadi, mangan, coban, đồng, ytri, niobi, hafni, vonfram, titan, crom, sắt, nicken, kẽm, zirconi, molybden và tantan. Việc phân loại các chất nguy hại sẽ quyết định  kim loại chuyển tiếp và hợp chất của kim loại chuyển tiếp nào là nguy hại.