|
Theo báo cáo mới đây của Hội đồng quốc gia tài nguyên nước, Việt Nam là quốc gia không giàu về nước, đặc biệt là trong mùa khô nhiều con sông trở nên khan hiếm nước, lượng nước chỉ đạt 20-30% tổng lượng nước bình quân năm. Các lưu vực sông Ðồng Nai, sông Hồng, sông Mã, sông Kôn, các sông vùng Ðông Nam Bộ đang ở mức thiếu nước cục bộ...
Mức căng thẳng nước của lưu vực sông cũng được xác định thông qua đánh giá tỷ lệ % lượng nước khai thác bình quân năm ở các sông. Theo tiêu chuẩn quốc tế, trong mùa khô, có bốn trong 16 lưu vực sông của Việt Nam thuộc nhóm căng thẳng cao. Ðó là lưu vực sông Mã, nhóm sông Ðông Nam Bộ, lưu vực sông Hương và Ðồng Nai. Sáu lưu vực sông thuộc nhóm căng thẳng trung bình - trong đó lưu vực sông Hồng có mức khai thác cao nhất trong nhóm trung bình. Ðối với sông Mã, hiện nay 80% lượng nước mùa khô được khai thác. Ðiều này cho thấy mức sử dụng nước cao và không bền vững.
Hiện ở nước ta, có tới 60% dân số sử dụng nguồn cấp nước là nước dưới đất. Việc khai thác nước dưới đất ở mức cao đã gây nên sự tụt giảm mực nước nhanh chóng ở các vùng quanh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và ở Tây Nguyên. Sự bền vững của những nguồn nước này đang là mối đe dọa thật sự. Chất lượng nguồn nước sông và nước ngầm đang suy giảm nhanh chóng do hàng loạt các hoạt động phát triển liên quan nước và đất.
Các hệ thống tự nhiên phụ thuộc vào tài nguyên nước và duy trì hệ thống sông và nước ngầm ngày càng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và các thay đổi đối với dòng chảy tự nhiên. Gần đây, một số cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nguồn nước đã được xác định.
Ðể giải quyết những vấn đề nêu trên, cần tiến hành củng cố khung quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở cấp quốc gia, bao gồm các luật về tài nguyên nước, sắp xếp thể chế, các chiến lược quốc gia và kế hoạch thực thi của các chiến lược đó và các chủ trương chính sách quốc gia.
Ðây là cơ sở cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước và hỗ trợ các hoạt động ở cấp vùng, cấp lưu vực sông hay cấp tỉnh. Nếu không có một khung quản lý mạnh và đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng cùng một vấn đề nhưng các tỉnh sẽ có những cách giải quyết khác nhau.
Chúng ta nên rà soát lại Luật Tài nguyên nước xây dựng khung luật pháp xử lý các địa điểm bị nhiễm bẩn xây dựng khung các quyền dùng nước và chia sẻ nước cũng như quy trình và phương pháp thực hiện quy hoạch lưu vực sông, chính sách quốc gia về cấp vốn cho ngành nước...
Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng khung thể chế mạnh hơn nữa, bằng cách thông qua pháp luật củng cố vai trò của Hội đồng quốc gia về Tài nguyên nước thiết lập mô hình thể chế phù hợp cho các tổ chức lưu vực sông tạo một môi trường quản lý, trong đó khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân đồng thời bảo vệ các lợi ích của cộng đồng Việt Nam về tài nguyên nước... |